Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Nghề Xuất nhập khẩu cần gì?

Nghề Xuất nhập khẩu cần gì?
Một nhân viên trong ngành XNK có nhiều chức danh khác nhau như: Nhân viên XNK, Nhân viên mua hàng (Purchasing officer), Chuyên viên XNK, Nhân viên chứng từ.... Nhưng nhìn chung, để thành công trong nghề Xuất nhập khẩu bạn cần các điều kiện sau:

1./ Nắm vững quy trình xuất-nhập khẩu và có kinh nghiệm làm chứng từ cũng như soạn thảo các loại văn bản, hợp đồng giao dịch; hiểu biết về hàng hóa và thị trường...

2./ Có khả năng ngoại ngữ và sử dụng thành thạo các ứng dụng tin học.

3./ Cần trang bị một số kỹ năng như kỹ năng đàm phán/thuyết phục, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tổ chức và kiểm soát công việc hiệu quả, kỹ năng giải quyết vấn đề…

4./ Phải có một số tố chất như cẩn thận, nhanh nhẹn, linh hoạt, tinh thần trách nhiệm cao và có khả năng chịu áp lực cao trong công việc…

Để thành công, bạn nên chuẩn bị sẵn sàng về kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm. Tùy từng doanh nghiệp, ngành hàng kinh doanh và thị trường chủ yếu, yêu cầu cụ thể đối với một chuyên viên xuất nhập khẩu sẽ khác đi.

Để trở thành 1 chuyên viên trong ngành không có gì quan trọng hơn là bạn phải yêu thích và đam mê công việc của mình. Hãy luôn luôn học hỏi không ngừng và nuôi dưỡng niềm đam mê công việc của bạn.

Công việc của nhân viên xuất nhập khẩu?

Công việc của nhân viên xuất nhập khẩu?
Công việc của nhân viên xuất nhập khẩu rất nhiều
ban đầu thì phải nghiên cứu thị trường mà mình xuất hoặc nhập
tìm các đối tác, phải hiểu rõ về họ nếu không sẽ dẫn đến rủi ro trong kinh doanh.
Sau đó phải hỏi hàng, rồi đàm phán về giá cả hợp đồng.....
đi đến kí kết hợp đồng
tính thuế, tra mã hàng hóa...
theo dõi hàng hóa đề có kế hoạch kinh doanh
xin giấy phép xuất nhập khẩu
nói chung là rất nhiều
hihi

Một số công việc của nhân viên xuất nhập khẩu như sau:
- Tiếp nhận, kiểm tra, đối chiếu, hồ sơ hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu.
- Lập hồ sơ khai báo hản quan, liên hệ dịch vụ khai báo hải quan, giao nhận hàng hóa.
- Lập hồ sơ thanh lý nguyên phụ liệu nhập khẩu, theo dõi tình hình nộp thuế, lập hồ sơ hoàn thuế nhập khẩu.
- Lập báo cáo nội bộ và báo cáo với các cơ quan nhà nước có liên quan.
- Liên hệ với chi nhánh, khách hàng ở nước ngoài...



công việc cơ bản của nhân viên xuất nhập khẩu là phải biết xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa:D

bạn phải hiểu thủ tục và phải biết thực hiện những thủ tục đó để xuất hàng hoặc nhập hàng. vd bạn phải biết lập hóa đơn thương mại, packing list, cetificate, insuarance, bill of exchange, thông quan và đóng thuế xuất khẩu ... sao cho đúng với những quy định (trong lc chẳng hạn) để có thể nhận được tiền hàng. đây là trường hợp bạn xuất khẩu hàng hóa

còn nếu nhập khẩu thỉ phải biết cách lấy hàng từ kho của cảng về kho của mình, kê khai hải quan cho hàng nhập khẩu, đóng thuế nhập khẩu, kiểm tra lc trước khi đồng ý...

ngoài ra có thể bạn phải thương lượng, ký kết hợp đồng ngoại thuơng với đối tác nếu là nhân viên cấp cao trong xnk.

cái này mình nghĩ vậy thôi theo những gì mình đc học mà nghiệm ra:D còn thực tế chưa đi làm lên cũng chẳng biết đúng ko nữa

Về quy trình công việc thì cũng đơn giản rùi không có gì phức tạp cho lắm, ví dụ nhân viên làm về NK: đầu tiên là công đoạn tìm hiểu sản phẩm của mình cần mua, tìm nhà cung cấp => hỏi giá => đàm phán giá, điều kiện giao hàng...=> làm hợp đồng ngoại thương=> thanh toán (tt hoặc lc, ra ngân hàng làm thủ tục..)=> theo dõi thời gian chuyển hàng (hàng lên tàu, nếu phần v/c do bên mình thuê thì liên hệ với nhà vận chuyển chỉ định với nhà cung cấp giao hàng...) =>làm thủ tục hải quan thông quan tại cảng = > chuyển hàng về kho, kiểm tra chất lượng hàng hóa, rùi đến khâu đoạn tiếp theo... trên đây chỉ là quy trình chung chung nhưng trong quá trình làm sẽ xảy ra những vấn đề phát sinh, điều quan trọng là các bạn xử lý những vấn đề đó như thế nào mà thôi.

Trên đây là ít kinh nghiệm ít ỏi của mình, có bác nào có kinh nghiệm hay hơn cùng chia sẻ nhé.

Tác động của AFTA đối với nền kinh tế Việt Nam

Tác động của AFTA đối với nền kinh tế Việt Nam
Ông Lê Đăng Doanh, chuyên viên cao cấp, cố vấn Bộ trưởng Bộ KH-đầu tư, đã từng ví von: "Khu vực thương mại tự do ASEAN ( AFTA ) là một cái sân tập. Còn Tổ chức thương mại thế giới ( WTO ) là sân thi đấu. Không có sân tập để luyện rèn, không ai có thể thi đấu tốt". Vậy tập luyện trên cái sân tập đó có tác động gì tới sức khỏe của kinh tế Việt Nam?
I. AFTA và quá trình tham gia của Việt Nam
1. Nội dung cơ bản của AFTA
AFTA là tên viết tắt tiếng Anh của Khu vực thương mại tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area).
Quyết định thành lập Khu vực thương mại tự do này được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 4, tổ chức vào tháng 1/1992 tại Singapore. Theo kế hoạch ban đầu, AFTA được hoàn thành vào năm 2008 với mục đích cơ bản là "tăng cường khả năng cạnh tranh của ASEAN như một cơ sở quốc tế nhằm cung cấp hàng hóa ra thị trường thế giới". Tuy nhiên, trước sự phát triển và cạnh tranh mạnh mẽ của các liên kết kinh tế toàn cầu khác, cũng như do sự tiến bộ của chính các quốc gia ASEAN, năm 1994, khối này quyết định đẩy nhanh thời hạn lên năm 2003.
Sau đó, từ năm 1995 đến 1998, ASEAN kết nạp thêm 4 nước thành viên mới là Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar.
Cơ chế chính để thực hiện AFTA là Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (Common Effective Preferential Tariff - CEPT). Về thực chất, CEPT là một thỏa thuận giữa các nước thành viên ASEAN về việc giảm thuế quan trong nội bộ khối xuống còn 0-5% thông qua những kế hoạch giảm thuế khác nhau. Trong vòng 5 năm sau khi đạt mức thuế ưu đãi cuối cùng, các nước thành viên sẽ tiến hành xóa bỏ các hạn ngạch nhập khẩu và những hàng rào phi quan thuế khác.
Thời hạn thực hiện CEPT của các nước có khác nhau. Cụ thể là:
Với Brunei, Indonesia, Philippines, Singapore, Thái Lan: từ 1993 đến 2003.
Với Việt Nam: từ 1996 đến 2006
Với Lào, Myanmar và Campuchia: từ 1998 đến 2008.
Để thực hiện dần dần việc cắt giảm thuế quan, mỗi nước sẽ phải phân loại tất cả hàng hóa của mình vào một trong các danh mục sau:
Danh mục giảm thuế (IL)
Danh mục loại trừ tạm thời (TEL)
Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL)
Danh mục nhạy cảm (SL)
Danh mục nhạy cảm cao
Danh mục giảm thuế (IL) bao gồm những mặt hàng sẽ được cắt giảm thuế quan để đến khi hoàn thành CEPT sẽ có thuế suất 0-5%. Ngay sau khi ký CEPT, mỗi nước ASEAN phải đưa ra IL của mình để bắt đầu giảm thuế quan từ năm 1993. Trên thực tế, không phải mặt hàng nào trong IL cũng thực sự phải giảm thuế quan, vì có những mặt hàng trước khi đưa vào IL đã có thuế suất dưới 5%, thậm chí bằng 0%.
Danh mục loại trừ tạm thời (TEL) bao gồm những mặt hàng chưa đưa vào giảm thuế quan ngay, do các nước thành viên ASEAN phải dành thêm thời gian để điều chỉnh sản xuất trong nước thích nghi với môi trường cạnh tranh quốc tế gia tăng.
Sau ba năm kể từ khi tham gia CEPT, các nước ASEAN phải bắt đầu chuyển dần các mặt hàng từ TEL sang IL, tức là bắt đầu giảm thuế quan đối với những mặt hàng này. Quá trình chuyển từ TEL sang IL được phép kéo dài trong 5 năm, mỗi năm phải chuyển được 20% số mặt hàng. Điều đó có nghĩa là đến hết năm thứ tám thì IL đã mở rộng bao trùm toàn bộ TEL, và TEL không còn tồn tại.
Khi đưa mỗi mặt hàng vào IL, các nước đồng thời phải chỉ ra lịch trình giảm thuế quan của mặt hàng đó cho đến khi hoàn thành CEPT.
Ví dụ: Khi tham gia CEPT vào năm 1993, IL của nước A bao gồm 50 mặt hàng, TEL của nước này có 100 mặt hàng. Từ năm 1996, nước A phải bắt đầu chuyển TEL sang IL. Nếu mỗi năm chuyển đều 20% thì năm 1996, IL của nước này có 50 + (100*20%) = 70 mặt hàng và TEL giảm đi còn 100 - (100*20%) = 80 mặt hàng. Năm 1997, IL sẽ là 90 và TEL sẽ là 60. Ba năm tiếp sau đó, các con số tương ứng sẽ là 110/40, 130/20 và 150/0. Đến năm 2000, IL của nước A sẽ bao gồm cả 150 mặt hàng và TEL không còn mặt hàng nào nữa.
Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL) bao gồm những mặt hàng không có nghĩa vụ phải giảm thuế quan. Các nước thành viên ASEAN có quyền đưa ra danh mục các mặt hàng này nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, bảo vệ sức khỏe con người, động thực vật; bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử, khảo cổ...
GEL không phải là Danh mục các mặt hàng Chính phủ cấm nhập khẩu (NK). Một số mặt hàng có trong GEL vẫn được NK bình thường, nhưng không hưởng thuế suất ưu đãi như các mặt hàng trong danh mục giảm thuế.
Ngoài cơ chế này, để hiện thức hóa AFTA, các nước ASEAN còn ký kết hàng loạt các thỏa thuận về thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hàng hóa giữa các nước thành viên, công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng hóa của nhau, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực hải quan, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển công nghiệp và xây dựng Khu vực đầu tư ASEAN (ASEAN Investment Area - AIA).
2. Quá trình tham gia của Việt Nam
Ngày 28/7/1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN và cam kết tham gia AFTA. Thời hạn hoàn thành AFTA của Việt Nam năm 2006. Việt Nam bắt đầu thực hiện lộ trình giảm thuế quan tham gia AFTA từ ngày 1/1/1996, khi đưa 875 mặt hàng đầu tiên vào thực hiện CEPT. Tất cả những mặt hàng này đều đã nằm ở khung thuế suất 0-5%.
Đầu năm 1998, Việt Nam công bố lịch trình giảm thuế để thực hiện AFTA vào năm 2006. Trên thực tế thì đến cuối năm 2002, 5.500 mặt hàng (chiếm khoảng 86% tổng số mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu) đã được vào chương trình cắt giảm. Toàn bộ các mặt hàng này đã ở thuế suất dưới 20% và có lộ trình cắt giảm trong thời kỳ 2002-2006. Trong số đó, 65% đã ở mức thuế 0-5%.
Theo số liệu của tờ Dow Jones, vào những ngày đầu năm 2003, mức thuế suất trung bình của Việt Nam chỉ hơn 2% một chút, và Việt Nam đang là nước có mức thuế suất trung bình thấp thứ 3 ASEAN, sau Singapore và Brunei.
Theo đúng lộ trình thì việc cắt giảm thuế tham gia AFTA đã được áp dụng chính thức tại Việt Nam từ ngày 1/1/2003. Tuy nhiên, ngày 10/1/2003, Bộ Tài chính đã thông báo việc cắt giảm đó sẽ được thực hiện lùi lại 7 tháng, vào ngày 1/7.
Đến ngày 1/7, 1.416 mặt hàng thuộc TEL được chuyển sang IL. Đa số đó là những mặt hàng hiện đang được bảo hộ với mức thuế suất rất cao (30-100%), hoặc đang được quản lý bằng hạn ngạch như xi măng , giấy , hàng điện tử, điện gia dụng , cơ khí, vật liệu xây dựng...
II. Tác động của AFTA đối với nền kinh tế Việt Nam
Đối chiếu nội dung của AFTA cũng như những tác động có thể có của nó đối với các nước thành viên nói chung, đối chiếu với tình hình cụ thể và tiến trình thực hiện AFTA của Việt Nam, AFTA có thể có những tác động trên các mặt chính sau:
1. Thương mại
1.1. Nhập khẩu:
Trong những năm gần đây, hàng hóa từ ASEAN vào Việt Nam chiếm khoảng 25% kim ngạch nhập khẩu (NK), trong đó nguyên vật liệu dùng cho sản xuất và hàng công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Các mặt hàng này đã có thuế suất dưới 5% trước khi thực hiện CEPT. Vì vậy, AFTA không có tác động trực tiếp tới việc NK những mặt hàng này.
Ngoài ra, một số hàng NK có kim ngạch đáng kể ở Việt Nam như xăng dầu, xe máy... chưa được đưa vào danh sách giảm thuế ngay nên trước mắt sẽ nằm ngoài phạm vi tác động của AFTA.
Về lâu dài, Việt Nam chắc chắn phải đưa thêm những mặt hàng từ danh mục loại trừ tạm thời có thuế suất trên 20% vào diện cắt giảm ngay, và loại trừ dần các hàng rào phi thuế quan (nhất là những hạn chế về số lượng nhập khẩu). Khi đó, rất có thể NK, nhất là những mặt hàng tiêu dùng từ các nước ASEAN vào Việt Nam sẽ tăng lên nếu những mặt hàng cùng loại sản xuất trong nước không cạnh tranh lại được.
1.2. Xuất khẩu:
a. Xuất khẩu sang các nước ASEAN khác:
Về lý thuyết và dài hạn, AFTA có tác động làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường ASEAN nhờ giảm thuế quan và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan. Song trong vài năm tới, khả năng AFTA làm tăng kim ngạch xuất khẩu (XK) của Việt Nam sang các nước này không lớn do các nguyên nhân sau:
Xét về cơ cấu hàng xuất khẩu (XK):
Những năm gần đây, ASEAN thường chiếm khoảng 20-23% kim ngạch xuất khẩu (XK) của Việt Nam. Đây là một con số đáng kể. Nhưng những mặt hàng được hưởng thuế suất CEPT lại chỉ chiếm gần 20% kim ngạch XK sang ASEAN, tương đương với dưới 4% tổng kim ngạch XK của Việt Nam năm 2001. Và mức tăng XK của những mặt hàng này sang các nước ASEAN khác cũng không lớn.
Hơn nữa, cơ cấu hàng hóa của Việt Nam và ASEAN khá tương đồng. Với trình độ thua kém hơn, Việt Nam chỉ có thể cạnh tranh trên thị trường ASEAN nhờ tính độc đáo của chủng loại, mẫu mã và do đó, chỉ mang tính bổ sung cho cơ cấu hàng hóa nước đối tác.
Xét về bạn hàng:
2/3 doanh số buôn bán của Việt Nam với ASEAN được thực hiện với Singapore. Phần lớn hàng Việt Nam xuất sang Singapore sẽ được tái xuất sang các nước khác. Nhưng ở nước này, hệ thống thuế xuất nhập khẩu trước AFTA vốn đã thấp, gần như bằng 0%. Do vậy, khi thực hiện CEPT trên toàn khối ASEAN, 1/3 kim ngạch xuất nhập khẩu còn lại của Việt Nam với các nước ASEAN khác sẽ chưa làm thay đổi nhiều XK Việt Nam nếu xét theo khía cạnh được hưởng ưu đãi thuế NK thấp.
Có thể kết luận rằng: Chỉ khi nào Việt Nam tạo được sự dịch chuyển cơ cấu sản xuất và XK theo hướng tạo ra được nhiều chủng loại hàng hóa có sức cạnh tranh và nằm trong danh mục cắt giảm của CEPT, các doanh nghiệp Việt Nam mới có thêm thuận lợi về yếu tố giá cả khi muốn XK sang ASEAN.
b. Về phần XK sang các nước ngoài ASEAN:
Về dài hạn, AFTA có tác động gián tiếp làm tăng kim ngạch XK của Việt Nam sang các thị trường ngoài ASEAN do nhập được đầu vào cho sản xuất XK với giá rẻ hơn từ các nước ASEAN. Mặt khác, với tư cách một thành viên của AFTA, Việt Nam có điều kiện để khai thác những lợi thế mới trong quan hệ thương mại với nước lớn.
Ví dụ, Việt Nam sẽ được hưởng hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập của Mỹ (General System of Preference - GSP). Bởi GSP quy định "giá trị một sản phẩm được sản xuất tại một nước thành viên của một hiệp hội kinh tế, khu vực thương mại tự do (như AFTA) thì được coi là sản phẩm của một nước" và một sản phẩm NK vào Mỹ được hưởng GSP nếu "giá trị nguyên liệu NK để sản xuất ra nó chiếm dưới 65% giá trị sản phẩm sau khi hoàn thành thủ tục hải quan vào Mỹ".
Điều đó có nghĩa là các nước ASEAN có thể nhập nguyên liệu từ các nước thành viên khác để sản xuất hàng XK sang Mỹ, và hàng XK sẽ được hưởng GSP nếu giá trị nguyên liệu dưới 65% giá trị sản phẩm. Và do đó, AFTA giúp Việt Nam tăng cường tiếp cận và thâm nhập thị trường Mỹ - đất nước có kim ngạch NK vượt 1000 tỷ USD mỗi năm.
Tuy vậy, như trên đã nói, cơ cấu sản phẩm của các nước ASEAN xuất ra thị trường thế giới lại khá tương đồng với Việt Nam. Và họ cũng được hưởng những lợi ích tương tự. Do đó, tham gia AFTA, Việt Nam tiếp tục phải chấp nhận cạnh tranh rất quyết liệt với các thành viên khác trong hiệp hội không chỉ trên thị trường khu vực.
Cũng cần nói thêm rằng, việc Việt Nam tham gia AFTA và tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương ( APEC ) tháng 11/1998 là những sự chứng minh, là bước chuẩn bị, tập dượt để gia nhập WTO.
2. Đầu tư nước ngoài
2.1. Đầu tư từ các nước ASEAN khác
AFTA có tác động phân công lại các nguồn lực trong khu vực theo hướng hợp lý hóa. Khi không còn bảo hộ, một số ngành công nghiệp của một số nước sẽ bộc lộ sự thua kém về khả năng cạnh tranh, để tồn tại, hoặc để thu được nhiều lợi nhuận hơn, các nhà kinh doanh trong những ngành này sẽ đầu tư sang các nước ASEAN khác có các yếu tố thuận lợi hơn, trong đó có Việt Nam.
Ngoài ra, với tiến trình hiện thức hóa Khu vực đầu tư ASEAN (AIA), các nhà đầu tư ASEAN nói riêng và các nhà đầu tư nước ngoài nói chung sẽ có nhiều thuận lợi về thủ tục hành chính và tâm lý khi đầu tư vào Việt Nam.
2.2. Đầu tư nước ngoài từ các nước khác
Về lý thuyết, một khu vực thương mại tự do sẽ làm tăng đầu tư từ ngoài khu vực. Đó là bởi các nhà đầu tư có thể sản xuất hàng hóa tại một hay một số nước và đưa ra tiêu thụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế thấp và hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ. Khi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một nước, họ sẽ có một thị trường tiềm năng rộng lớn hơn nhiều lần nước đó.
Áp dụng lý thuyết đó vào AFTA và Việt Nam, thì các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam, họ sẽ không chỉ nghĩ đến một thị trường với 80 triệu dân, mà còn tính đến cả thị trường ASEAN với trên 500 triệu người.
Nhưng trên thực tế, thuế chỉ là một trong rất nhiều yếu tố được xem xét để đi đến quyết định đầu tư. Thuế thấp sẽ mất đi ý nghĩa thu hút đầu tư nước ngoài nếu không đi kèm với sự ổn định chính trị, xã hội, luật đầu tư nước ngoài thông thoáng, nguồn lao động giá rẻ và có tay nghề cao... Có thể lấy ví dụ đơn cử là Indonesia hiện nay. Mặc dù Indonesia đã hoàn thành AFTA, nhưng rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài nhưSony , Matsushita... đã và đang rời bỏ nước này sang Trung Quốc, Malaysia hay Việt Nam vì lo ngại và thất vọng trước nạn khủng bố, mâu thuẫn sắc tộc, bất ổn quyền lực và tham nhũng...
Đó cũng thách thức chung cho tất cả các thành viên của AFTA. Vì nếu như trước đây, Indonesia hay Việt Nam không phải là thành viên của AFTA, để vượt qua hàng rào thuế quan và các hạn chế NK vào thị trường Indonesia hay Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài buộc phải đầu tư tại nước sở tại. Nhưng nay Việt Nam đã là thành viên AFTA, nếu môi trường đầu tư vào Việt Nam không hấp dẫn, thì thay vì đầu tư Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài có thể sẽ đầu tư vào các nước ASEAN khác, hoặc đơn giản hơn, chỉ cần mở rộng hoặc tăng thêm công suất của các nhà máy sẵn có tại các nước AFTA, đặc biệt là đối với các dây chuyền sản xuất đã gần hết khấu hao nhưng vẫn vận hành tốt, rồi từ đó bán hàng sang Việt Nam.
Như vậy, để tận dụng được những cơ hội thu hút đầu tư từ các nước khác mà AFTA đem lại, Việt Nam cần phải tiếp tục cải thiện một cách đồng bộ và toàn diện môi trường đầu tư.
3. Công nghiệp
Về lâu dài, khi các ngành công nghiệp của những nước thành viên không còn được bảo hộ, AFTA sẽ làm thay đổi cơ cấu công nghiệp khu vực theo hướng chuyên môn hóa và phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý hơn. Nhưng đây là sự thay đổi và phân bổ mang tính động và phụ thuộc chủ yếu vào sự lựa chọn và nỗ lực chủ quan của từng nước.
Singapore sẽ đẩy mạnh phát triển các ngành hóa chất, trang thiết bị vận tải và linh kiện điện tử, trong khi đó sẽ bỏ ngỏ các ngành cần nhiều lao động và khoáng sản. Malaysia thì có sự sắp xếp ngược lại. Các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu như công nghiệp giấy, chế biến gỗ, may mặc và dệt sẽ tăng nhanh. Trong khi đó, các ngành thiết bị vận tải, hóa chất, đồ gỗ, thực phẩm đã qua chế biến sẽ giảm mạnh.
Cũng giống như tại các nước ASEAN, ở một mức độ nào đó, AFTA sẽ làm thay đổi cơ cấu công nghiệp của Việt Nam. Trong đó, một số ngành sẽ phát triển, một số ngành sẽ bị thu hẹp.
Tuy vậy, AFTA cũng tạo cho chúng ta điều kiện và thời gian để chuẩn bị và vươn lên để có thể đứng vững và phát triển vì:
Thứ nhất, mọi thời hạn thực hiện và hoàn thành AFTA/CEPT đối với Việt Nam được cộng thêm 3 năm;
Thứ hai, cũng như các nước ASEAN khác, Việt Nam không cần phải đưa ngay một lúc tất cả các danh mục hàng hóa vào chương trình giảm thuế. Những mặt hàng nào có tỷ trọng NK cao và có khối lượng giá trị tiêu thụ lớn trên thị trường nội địa có thể sẽ đưa vào giảm thuế chậm hơn;
Thứ ba, sau khi một mặt hàng được giảm thuế, các hàng rào phi thuế quan (nếu có đối với mặt hàng đó) sau đó 5 năm mới phải xóa bỏ;
Thứ tư, việc cắt giảm thuế NK đối với một số nguyên liệu, sản phẩm đầu vào sẽ làm giảm chi phí sản xuất và do vậy, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho một số sản phẩm công nghiệp.
Vấn đề đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà kinh doanh là làm thế nào để tận dụng được những cơ hội và thời gian một cách có hiệu quả, định hướng cơ cấu công nghiệp và mặt hàng kinh doanh như thế nào để có thể phát huy được lợi thế so sánh của Việt Nam trong phân công lao động khu vực.
Trên cơ sở định hướng phát triển công nghiệp theo cơ chế kinh tế mở, Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi và đầu tư thích đáng, đồng thời áp dụng các biện pháp bảo hộ hợp lý trong thời gian cho phép để các ngành có tiềm năng phát triển có thể cạnh tranh không những trên thị trường trong nước mà còn trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên, mọi sự bảo hộ của Nhà nước đều có giới hạn. Để đứng vững và phát triển, các doanh nghiệp cần phải khẩn trương nghiên cứu nhu cầu thị trường trong nước và khu vực, khả năng cạnh tranh của các nước ASEAN trong cùng lĩnh vực để kịp thời điều chỉnh cơ cấu sản xuất, đổi mới trang thiết bị và công nghệ, nâng cao năng lực quản lý khi sự bảo hộ không còn nữa, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam về cơ bản sẽ hoàn thành AFTA vào năm 2005.
4. Ngân sách nhà nước
Tham gia AFTA và thực hiện chương trình cắt giảm thuế quan theo CEPT chắc chắn sẽ tác động tới nguồn thu cho ngân sách, ít nhất là trong giai đoạn đầu khi Việt Nam thực sự cắt giảm thuế quan, tức là từ 1/7 năm nay. Theo số liệu những năm gần đây, NK từ các nước ASEAN chiếm khoảng 20-23% kim ngạch NK của Việt Nam, trong khi đó, thuế NK (trừ dầu thô) đóng góp khoảng 25% tổng số thu ngân sách. Như vậy, về mặt số học đơn thuần, khi cắt giảm thuế quan, rõ ràng nguồn thu ngân sách sẽ bị giảm.
Về dài hạn, AFTA sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất trong nước. Như vậy, cơ sở để tính toán rằng, về dài hạn, phần giảm của thuế NK do thực hiện CEPT sẽ được bù lại bằng tăng thu do kim ngạch buôn bán tăng và tăng thu từ các loại thuế khác như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập công ty...
Tuy nhiên, đây cũng chỉ là lý thuyết, thực tế còn phụ thuộc vào sự phát triển của sản xuất trong nước, hiệu quả của hệ thống thuế và bộ máy thu thuế.
Tóm lại, tham gia ASEAN và AFTA là bước đi tất yếu đầu tiên của Việt Nam trên con đường hội nhập với khu vực và thế giới. Sự kiện này mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội mới cũng như nhiều thách thức to lớn. Cơ hội và thách thức đan xen lẫn nhau, đòi hỏi sự nỗ lực cả tầm vĩ mô và vi mô để khai thác triệt để các cơ hội và hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng tiêu cực do các thách thức đưa đến.
Không nên coi việc thực hiện AFTA như một quá trình hay hành động riêng biệt, mà phải đặt nó trong lộ trình hội nhập và tự do hóa thương mại tổng thể, trong đó, mục tiêu nhất quán được xác định bởi khuôn khổ WTO.
  • Hoàng Lan
Việt Báo (Theo_VietNamNet)

Phương thức giao dịch trên sàn giao dịch hàng hóa

1. VNX tổ chức giao dịch từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần, trừ các ngày nghỉ theo quy định trong Bộ Luật lao động Việt Nam.
2. Thời gian giao dịch cụ thể do VNX quy định cho từng thời kỳ và công bố trên website của VNX.
1. VNX tổ chức giao dịch hàng hoá thông qua hệ thống giao dịch theo 2 (hai) phương thức sau:
a. Phương thức khớp lệnh: bao gồm khớp lệnh định kỳ và khớp lệnh liên tục.
- Khớp lệnh định kỳ: là phương thức giao dịch được hệ thống giao dịch thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán của khách hàng tại một thời điểm xác định. Phương thức khớp lệnh định kỳ được sử dụng để xác định giá mở cửa và giá đóng cửa trong phiên giao dịch.
Nguyên tắc xác định giá như sau:
+ Là mức giá thực hiện đạt được khối lượng giao dịch lớn nhất;
+ Nếu có nhiều mức giá thỏa mãn yêu cầu trên thì mức giá trùng hoặc gần với giá thực hiện của lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn.
- Khớp lệnh liên tục: là phương thức giao dịch được hệ thống giao dịch thực hiện trên cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán ngay khi lệnh được nhập vào.
Nguyên tắc xác định giá thực hiện trong phương thức khớp lệnh liên tục là mức giá của các lệnh giới hạn đối ứng đang nằm chờ trên sổ lệnh.
2. Hợp đồng tương lai được thực hiện theo phương thức khớp lệnh. Hợp đồng kỳ hạn và giao ngay được thực hiện theo phương thức thoả thuận.
3. Trong trường hợp cần thiết, VNX sẽ quyết định thay đổi phương thức giao dịch đối với từng loại hàng hoá.
1. Trước mỗi phiên giao dịch, VNX sẽ công bố trên website của VNX các mức ký quỹ ban đầu, mức ký quỹ duy trì, mức xử lý, mức ký quỹ giao nhận hàng hoá vật chất để khách hàng và các thành viên căn cứ thực hiện giao dịch.
2. Tiền ký quỹ giao dịch và thanh toán nộp chẵn theo đơn vị ngàn đồng và không được hưởng lãi.
3. Khi số dư tài khoản giao dịch hàng hóa bằng hoặc nhỏ hơn mức ký quỹ duy trì thì khách hàng phải nộp bổ sung tiền ký quỹ giao dịch chậm nhất vào ngày làm việc tiếp theo.
4. Kể từ ngày thông báo đầu tiên thì khách hàng phải duy trì mức ký quỹ giao nhận hàng hoá vật chất.
1. Giá mở cửa: là giá khớp lệnh đầu tiên trong phiên giao dịch của các hợp đồng tương lai của mỗi loại hàng hóa.
2. Giá đóng cửa: là giá khớp lệnh cuối cùng trong phiên giao dịch của các hợp đồng tương lai của mỗi loại hàng hóa.
3. Giá cao nhất: là giá khớp lệnh cao nhất trong phiên giao dịch của các hợp đồng tương lai của mỗi loại hàng hóa tính đến thời điểm thông báo.
4. Giá thấp nhất: là giá khớp lệnh thấp nhất trong phiên giao dịch của các hợp đồng tương lai của mỗi loại hàng hóa tính đến thời điểm thông báo.
5. Giá gần nhất: là giá khớp lệnh liền kề trước đó trong phiên giao dịch của các hợp đồng tương lai của mỗi loại hàng hóa.
6. Giá thị trường: là giá khớp lệnh gần nhất của các hợp đồng tương lai của mỗi loại hàng hóa.
7. Giá thanh toán: là mức giá do VNX công bố cuối mỗi ngày giao dịch để làm cơ sở tính toán lãi lỗ vị thế mở.
8. Giá đặt mua cao nhất: là giá đặt mua cao nhất mà thành viên kinh doanh hoặc khách hàng sẵn sàng trả tiền để mua một hợp đồng tương lai của một loại hàng hóa cụ thể tại thời điểm.
9. Giá đặt bán thấp nhất: là giá đặt bán thấp nhất mà thành viên kinh doanh hoặc khách hàng sẵn sàng chấp nhận để bán một hợp đồng tương lai của một loạihàng hóa cụ thể tại thời điểm.
10. Độ biến động giá: là phần trăm thay đổi giữa giá khớp lệnh gần nhất so với giá khớp lệnh liền kề trước đó của các hợp đồng tương lai của mỗi loại hàng hóa.
1. Khối lượng dư mua: là tổng khối lượng của các lệnh đặt mua nhưng chưa khớp của mỗi loại hàng hóa trên hệ thốnggiao dịch tại thời điểm cụ thể.
2. Khối lượng dư bán: là tổng khối lượng của các lệnh đặt bán nhưng chưa khớp của mỗi loại hàng hóa trên hệ thống giao dịch tại thời điểm cụ thể.
3. Khối lượng giao dịch của mỗi phiên: là tổng khối lượng của các lệnh đã khớp trong phiên giao dịch.
1. Khách hàng phải trả phí giao dịch cho thành viên đối với các lệnh khớp thành công theo quy định trong từng thời kỳ.
2. Thành viên phải trả phí giao dịch cho VNX đối với các lệnh của khách hàng khớp thành công theo quy định trong từng thời kỳ.
3. Các loại phí, thuế khác thu theo quy định của VNX và pháp luật.
4. Phí giao dịch và các loại phí, thuế khác sẽ được VNX thu vào cuối phiên giao dịch từ tài khoản giao dịch hàng hoá, sau đó chuyển trả lại cho các bên liên quan phần được hưởng theo quy định.
1. Lệnh giới hạn (Limit Order): là lệnh xác định một mức giá cụ thể nhằm mua/bán một lượng hàng hoá tại thời điểm hiện tại hoặc trong kỳ hạn nếu giá thị trường đạt đến mức giá được xác định nói trên. Mức giá của lệnh tốt hơn mức giá thị trường của kỳ hạn tương ứng tại thời điểm đặt lệnh.
2. Lệnh có giá trị cho đến khi bị huỷ (Good Till Canceled Order - GTC): là lệnh có hiệu lực trong thời gian thị trường mở cửa cho đến khi nó được thực hiện hoặc bị hủy bỏ.
3. Lệnh có giá trị cho đến khi hủy vào ngày xác định (Good Till Canceled with Date Specified - GTD): là lệnh có hiệu lực trong thời gian thị trường mở cửa cho đến khi nó được thực hiện hoặc hủy bỏ vào ngày xác định.
4. Lệnh dừng (Stop Order): là lệnh xác định trong một khoảng giá cụ thể nhằm mua/bán một lượng hàng hoá tại thời điểm hiện tại hoặc trong tương lai nếu giá thị trường đạt đến khoảng giá được xác định nói trên. Mức giá của lệnh xấu hơn mức giá thị trường của kỳ hạn tương ứng tại thời điểm đặt lệnh.
5. Lệnh dừng giới hạn (Stop Limit): là lệnh xác định mức giá cụ thể nhằm mua/bán một lượng hàng hoá tại thời điểm hiện tại hoặc trong tương lai nếu giá thị trường đạt đến mức giá nói trên. Mức giá của lệnh xấu hơn mức giá thị trường của kỳ hạn tương ứng tại thời điểm đặt lệnh, đồng thời khách hàng cũng quy định luôn mức giá giới hạn tối đa để lệnh được thực hiện.
6. Lệnh thị trường (Market Order - MP): là lệnh mua bán một khối lượng hàng hoá tại bất kỳ mức giá nào của thị trường tại thời điểm lệnh được đưa vào thị trường (đó là mức giá tốt nhất của thị trường tại thời điểm đó).
7. Lệnh hủy (Cancellation): là lệnh dùng để hủy bỏ lệnh đã ra trước đó.


Nguyên tắc khớp lệnh giao dịch

1. Hệ thống giao dịch thực hiện so khớp các lệnh mua và lệnh bán hàng hóa theo nguyên tắc thứ tự ưu tiên về giá và thời gian, cụ thể như sau: a. Ưu tiên về giá:
- Lệnh mua có mức giá cao hơn được ưu tiên thực hiện trước;
- Lệnh bán có mức giá thấp hơn được ưu tiên thực hiện trước.
b. Ưu tiên về thời gian: Trường hợp các lệnh mua hoặc lệnh bán có cùng mức giá thì lệnh nhập vào hệ thống giao dịch trước sẽ được ưu tiên thực hiện trước. 7
2. Đối với lệnh thị trường (Lệnh MP):
a. Khi được nhập vào hệ thống giao dịch, lệnh thị trường mua sẽ được thực hiện ngay tại mức giá bán thấp nhất và lệnh thị trường bán sẽ thực hiện ngay tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường.
b. Nếu khối lượng đặt lệnh vẫn còn nhưng không thể so khớp tiếp tục do khối lượng của bên đối ứng đã hết, lệnh thị trường sẽ lập tức bị hủy trên hệ thống giao dịch.
1. Giao dịch hàng hóa được xác lập khi hệ thống giao dịch thực hiện khớp lệnh mua và lệnh bán theo phương thức khớp lệnh hoặc ghi nhận giao dịch theo phương thức thỏa thuận, ngoại trừ có quy định khác do VNX ban hành. Bên mua và bên bán có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với giao dịch hàng hóa đã được xác lập.
2. Trong trường hợp giao dịch đã được xác lập ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các khách hàng hoặc toàn bộ giao dịch trên thị trường, VNX có thể hủy bỏ giao dịch trên.
1. Đơn vị giao dịch là lô được quy định theo từng hợp đồng tương lai.
2. Không quy định đơn vị giao dịch đối với hợp đồng kỳ hạn và giao ngay.
3. VNX sẽ quyết định thay đổi đơn vị giao dịch khi cần thiết. 
1. Đơn vị yết giá quy định đối với hợp đồng tương lai là VND/tấn.
2. Không quy định đơn vị yết giá đối với hợp đồng kỳ hạn và giao ngay. 
1. Bước nhảy giá và bước nhảy khối lượng quy định theo đặc tả hợp đồng tương lai.
2. Không quy định bước nhảy giá và bước nhảy khối lượng đối với hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng giao ngay. 
1. Vị thế giao dịch được xác lập khi thành viên hoặc khách hàng thực hiện một hay nhiều giao dịch mua/bán với một hay nhiều loại hàng hóa khác nhau hoặc kỳ hạn khác nhau tại VNX. Vị thế giao dịch bao gồm vị thế giao dịch mua và vị thế giao dịch bán.
2. Vị thế mở là vị thế giao dịch mua nhưng chưa bán lại hoặc vị thế giao dịch bán nhưng chưa mua lại. Các vị thế này có thể dẫn đến tổn thất hoặc lợi nhuận nhiều mức độ cho các thành viên hoặc khách hàng là chủ thể của các vị thế mở đó. VNX sẽ thiết lập và cập nhật giới hạn vị thế mở cho các thành viên kinh doanh và/hoặc từng khách hàng (nếu xét thấy cần thiết) theo công thức sau:

Giới hạn vị thế mở = Số dư ký quỹ khả dụng ròng ÷ Mức ký quỹ mỗi lô 

3. Vị thế đóng là các vị thế mua đã bán lại hoặc các vị thế bán đã mua lại. Các vị thế này có sự tổn thất hoặc lợi nhuận được xác định và không còn gây ra các tổn thất khác cho chủ thể.
4. Các vị thế giao dịch chỉ được xem đã được đóng lại khi các vị thế giao dịch đối ứng với vị thế giao dịch mở có cùng loại hàng hóa, khối lượng, kỳ hạn và thị trường. Vị thế giao dịch mở và các vị thế giao dịch đối ứng có thể có ngày giao dịch khác nhau.
5. Thành viên và khách hàng đang có vị thế giao dịch mở có trách nhiệm phải tự chịu các sự tổn thất, thiệt hại hoặc được hưởng lợi ích từ các vị thế giao dịch mở đó.
6. Thành viên hoặc khách hàng có thể có nhiều vị thế giao dịch mở trong cùng thời điểm nhưng tổng giá trị hoặc khối lượng các vị thế không được vượt quá hạn mức giao dịch của thành viên hay khách hàng do VNX công bố theo từng thời kỳ.
Tất cả các hợp đồng phải tất toán chậm nhất vào ngày giao dịch cuối cùng của tháng hợp đồng bằng cách đóng các vị thế mở hoặc giao nhận hàng hoá vật chất hoặc thanh toán bằng tiền theo quy định của VNX.
1. VNX có quyền yêu cầu các thành viên hoặc khách hàng và các thành viên có quyền yêu cầu khách hàng thực hiện đóng các vị thế mở trong các trường hợp sau:
a. Tại ngày giao dịch cuối cùng của tháng hợp đồng mà trước đó khách hàng không có thông báo ý định giao nhận hàng vật chất.
b. Thành viên hoặc khách hàng không đảm bảo duy trì ký quỹ theo quy định của VNX.
c. Số hợp đồng đang còn hiệu lực vượt quá giới hạn vị thế quy định.
d. Các thành viên hoặc khách hàng vi phạm các quy định giao dịch của VNX và pháp luật.
e. Đóng vị thế bắt buộc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Đóng vị thế bắt buộc là nghĩa vụ của khách hàng và các thành viên liên quan và phải thực hiện sớm nhất khi có thể. Nếu khách hàng và thành viên không thực hiện đầy đủ và kịp thời việc đóng vị thế bắt buộc, có thể dẫn đến tổn thất cho khách hàng và thành viên.
3. VNX tiến hành đóng vị thế bắt buộc khi cần thiết để tuân thủ quy định giao dịch và ổn định cho thị trường nếu khách hàng và thành viên không thực hiện đầy đủ và kịp thời, đồng thời sẽ có các hình thức xử lý vi phạm thích hợp. Trong trường hợp đã đóng vị thế mà khoản thiệt hại vẫn không đủ bù đắp, khách hàng và thành viên phải tiếp tục thanh toán cho bên bị thiệt hại.
4. Các bên thực hiện đóng vị thế bắt buộc phải áp dụng giá có thể thực hiện tốt nhất trên thị trường vào thời điểm đó.
5. Các bên bị đóng vị thế bắt buộc sẽ không được mở vị thế mới trước khi đáp ứng đầy đủ các quy định của VNX.
1. Việc sửa lệnh, hủy lệnh giao dịch chỉ có hiệu lực đối với lệnh gốc chưa được thực hiện hoặc phần còn lại của lệnh gốc chưa được thực hiện.
2. Khách hàng được phép sửa giá, hủy lệnh trong thời gian giao dịch. Thứ tự ưu tiên của lệnh sau khi sửa được tính kể từ khi lệnh sửa được nhập vào hệ thống giao dịch.
3. Thành viên, khách hàng phải tuân thủ quy trình sửa, hủy lệnh do VNX ban hành.
1. Khách hàng nộp tiền ký quỹ giao dịch và thanh toán mua hàng chẵn theo đơn vị ngàn đồng và không được hưởng lãi.
2. Trước mỗi phiên giao dịch, VNX sẽ công bố trên website của VNX các mức ký quỹ ban đầu, mức ký quỹ duy trì, mức xử lý, mức ký quỹ giao nhận hàng hoá vật chất để khách hàng và các thành viên căn cứ thực hiện giao dịch.
3. Khi số dư tài khoản giao dịch hàng hóa bằng hoặc nhỏ mức ký quỹ duy trì thì khách hàng phải nộp bổ sung tiền ký quỹ giao dịch chậm nhất vào ngày làm việc tiếp theo.
4. Kể từ ngày thông báo đầu tiên thì khách hàng phải duy trì mức ký quỹ giao nhận hàng hoá vật chất.
5. Căn cứ vào giá thanh toán của phiên giao dịch cuối cùng tại ngày giao dịch cuối cùng, khách hàng nhận hàng vật chất phải thanh toán 100% giá trị hợp đồng chậm nhất vào ngày làm việc tiếp theo.
1. Khách hàng nộp hoặc chuyển khoản tiền ký quỹ giao dịch và thanh toán mua hàng vào tài khoản thanh toán giao dịch hàng hoá của thành viên kinh doanh liên quan.
2. Chậm nhất ngày làm việc tiếp theo (ngày T+1), thành viên kinh doanh (hoặc uỷ quyền cho ngân hàng thanh toán) nhập dữ liệu tiền ký quỹ giao dịch và thanh toán mua hàng của khách hàng vào hệ thống phần mềm giao dịch của VNX.
3. Thành viên kinh doanh chuyển khoản cho VNX và tồn quỹ tại ngân hàng tiền ký quỹ giao dịch của khách hàng theo quy định đối với mỗi thành viên. Căn cứ vào số tiền ký quỹ giao dịch của khách hàng mà thành viên kinh doanh chuyển khoản, VNX thiết lập hàng ngày hạn mức vị thế mở chung cho thành viên kinh doanh đó (bao gồm thành viên môi giới hợp tác).
1. Khách hàng rút tiền ký quỹ giao dịch, tiền lãi và tiền bán hàng chẵn theo đơn vị ngàn đồng.
2. Khách hàng được rút tiền ký quỹ giao dịch trên mức ký quỹ theo quy định, khi đóng hoặc có lãi vị thế cuối ngày, người bán sau khi hoàn tất việc chuyển hàng vào kho do VNX chỉ định, và khi tất toán tài khoản giao dịch hàng hoá (nếu còn tiền).
3. Căn cứ vào giá thanh toán của phiên giao dịch cuối cùng tại ngày giao dịch cuối cùng, khách hàng giao hàng vật chất được nhận 100% giá trị hợp đồng chậm nhất vào ngày làm việc tiếp theo.
1. Khách hàng làm thủ tục yêu cầu rút tiền tại thành viên kinh doanh, thành viên môi giới hợp tác nơi mở tài khoản giao dịch hàng hoá trong các ngày làm việc (ngày T). Thành viên kinh doanh, thành viên môi giới hợp tác tự kiểm tra thông tin và cập nhật việc rút tiền vào hệ thống phần mềm giao dịch của VNX ngay khi phát sinh. Thành viên kinh doanh lập danh sách tổng hợp (có chữ ký và đóng dấu hợp lệ) các yêu cầu rút tiền của khách hàng của thành viên kinh doanh và của thành viên môi giới hợp tác, sau đó fax và scan để gửi e-mail cho VNX trước 15 giờ cùng ngày, đồng thời gửi chuyển phát nhanh 02 (hai) bản cho VNX.
2. VNX sẽ kiểm tra các điều kiện hợp lệ sau khi nhận được một danh sách tổng hợp của thành viên kinh doanh. Nếu hợp lệ thì VNX điều chỉnh giảm ngay hạn mức vị thế mở chung cho thành viên kinh doanh đó (bao gồm thành viên môi giới hợp tác) và chuyển khoản số tiền yêu cầu vào tài khoản tiền gửi thanh toán của thành viên kinh doanh chậm nhất ngày làm việc tiếp theo (ngày T+1); nếu không hợp lệ thì VNX sẽ thông báo cho thành viên kinh doanh điều chỉnh.
3. Sau khi nhận được tiền từ VNX, thành viên kinh doanh trả tiền cho khách hàng của mình và chuyển khoản vào tài khoản tiền gửi thanh toán của thành viên môi giới hợp tác chậm nhất ngày làm việc tiếp theo (ngày T+2).
4. Sau khi nhận được tiền từ thành viên kinh doanh, thành viên môi giới trả tiền cho khách hàng của mình chậm nhất ngày làm việc tiếp theo (ngày T+3).