Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng

Vì sao Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa

Vì sao Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa

Chỉ một tuần sau chuyến công du của Ngoại trưởng Henry Kissinger, thấy rõ ý định "bỏ rơi" của Mỹ cũng như các điều kiện bất lợi với Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc đã điều chiến hạm ra cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa.

40 năm trước, ngày 19/1/1974, một biến cố trọng đại trong lịch sử Việt Nam hiện đại đã diễn ra - hải chiến Hoàng Sa giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc. Sau trận chiến, quần đảo Hoàng Sa - một bộ phận thiêng liêng và không thể tách rời của Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm giữ. 
Thạc sĩ Nguyễn Hùng Cường (Viện Nghiên cứu Khoa học Biển và Hải đảo), đã có bài viết tái hiện những sự kiện chính diễn ra trước, trong và sau trận hải chiến:
Suốt nhiều thế kỷ, Việt Nam đã chiếm hữu thật sự, hòa bình và công khai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền bất cứ quốc gia nào. Từ thế kỷ XVII, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện hiệu quả chủ quyền với hai quần đảo này và luôn bảo vệ các quyền, danh nghĩa của mình trước mưu đồ và hành động xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam với hai quần đảo thiêng liêng của mình.
Đầu thế kỷ XX, nhận thấy vị trí chiến lược cũng như tầm quan trọng của biển Đông nói chung và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa nói riêng, một số quốc gia (điển hình là Trung Quốc) đã xâm chiếm bất hợp pháp các vùng lãnh thổ này của Việt Nam. 
Trung Quốc luôn coi biển Đông, đặc biệt là các quần đảo của Việt Nam là bàn đạp quan trọng để thực hiện chiến lược bành trướng xuống Đông Nam Á. Vì vậy, giới cầm quyền Trung Quốc từ Trung Hoa Dân Quốc cho đến Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã không ngừng đẩy mạnh thực hiện âm mưu độc chiếm biển Đông.
Lợi dụng tình hình rối ren khi Nhật đầu hàng đồng minh và việc giải giáp quân Nhật theo Hiệp định Postdam 1945, Trung Hoa Dân Quốc đã đem quân chiếm giữ đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa) vào cuối năm 1946. Sau đó Trung Hoa Dân Quốc rút quân khỏi Hoàng Sa, và Nhật rút quân khỏi quần đảo này theo Hòa ước San Fransisco 1951. Sau khi Hiệp định Geneva 1954 được ký kết, Pháp rút khỏi Đông Dương, ngày 21/1/1956 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đưa quân chiếm đóng đảo Phú Lâm và Lin Côn.
Năm 1974, nhận thấy thời cơ đã chín muồi, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực toàn bộ nhóm đảo Trăng Khuyết phía tây nam quần đảo Hoàng Sa. Thời cơ này xuất phát từ tình hình, bối cảnh quốc tế và trong nước.
Đầu thập niên 1970, phong trào phản đối chiến tranh tại Việt Nam diễn ra sôi nổi và rộng khắp trên thế giới khiến Mỹ ngày càng xa lánh Việt Nam Cộng hòa; đặc biệt sau khi ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh phải rút quân khỏi Việt Nam. Do không muốn tham gia vào một cuộc chiến đã bước vào hồi kết, tháng 6/1973 Lưỡng viện Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật "Case-Church" cấm cơ quan hành pháp nước này tái can thiệp quân sự vào ba nước Đông Dương trừ khi được chấp thuận của Lưỡng viện.
Ngoài ra, Mỹ được cho là có một “toan tính” sâu xa hơn khi không can dự vào trận Hải chiến 1974 vì khi đó, Việt Nam và Trung Quốc đều đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa. Việc Washington “làm ngơ” cho Bắc Kinh ngang nhiên chiếm Hoàng Sa sẽ tạo thù địch giữa Hà Nội và Bắc Kinh, dẫn đến chia rẽ giữa các nước cộng sản. Khi người "bảo trợ" đã ra đi, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa rơi vào tình thế đơn độc và bất lợi trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa.
Cuộc đụng độ biên giới năm 1969 mang lại cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA) niềm tin rằng họ có thể chống trả Hồng quân Liên Xô. Từ đó, Trung Quốc bắt đầu thực hiện sáng kiến đối ngoại mới bằng cách thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Mỹ, cao trào là chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon tháng 2/1972. Sau chuyến công du đó, Trung Quốc trở thành "đồng minh giai đoạn" của Mỹ để kìm chân và chống lại Liên Xô. Mỹ không muốn quan hệ chiến lược này bị rạn nứt vì vụ Hoàng Sa. Việc lựa chọn giữa "đồng minh cũ" hay "người bạn mới" trong “thời kỳ trăng mật” này không phải là sự lựa chọn khó khăn đối với Mỹ.
Ngoại trưởng Kissinger trong chuyến thăm Trung Quốc. Ảnh tư liệu
kisswall-2435-1389846099.jpg
Thực tế, trong trận Hải chiến Hoàng Sa chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nhiều lần thông báo tình hình với Đại sứ quán Mỹ nhưng Washington đã không có động thái hỗ trợ nào.
Trên vùng biển Đông ngoài khơi Việt Nam gần với đảo Hải Nam (Trung Quốc) và Hoàng Sa (Việt Nam) thời điểm đó có mặt Hải đoàn 77 (Task Force 77) của Hải quân Mỹ gồm các hàng không mẫu hạm và các chiến hạm yểm trợ. Hải đoàn này đủ khả năng kiểm soát không và hải phận, cũng như hoạt động của các tàu ngầm trong vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, Mỹ đã hoàn toàn đứng ngoài cuộc.
Cũng thời điểm đó, Việt Nam Cộng hòa mới chỉ là quan sát viên mà chưa phải thành viên của Liên Hợp Quốc trong khi Trung Quốc là một trong 5 nước ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an. Vị thế quốc tế của Trung Quốc khiến nước này tự tin rằng, Việt Nam Cộng hòa không có đủ tư cách sử dụng các cơ chế để tự vệ và bảo vệ Hoàng Sa theo các điều khoản của Hiến chương Liên Hợp Quốc.
Ngày 30/1/1974, Lãnh sự quán Mỹ ở Hồng Kông đã báo cáo về Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Mỹ ở các nước liên quan về những tính toán của Trung Quốc trong việc thôn tính quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Cơ quan này nhận định, Trung Quốc đã có ý đồ đánh chiếm Hoàng Sa từ trước.
Theo phân tích của lãnh sự quán Mỹ, quyết định đánh chiếm Hoàng Sa phụ thuộc vào một số yếu tố như tiềm năng về dầu khí tại khu vực, lo ngại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể đưa ra tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa cũng như lợi ích chiến lược về lâu dài của quần đảo.
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng có thể lo sợ việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ không tiếp tục giữ thái độ im lặng trước vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Bằng việc sử dụng vũ lực, Trung Quốc đã tránh tình huống nguy hiểm hơn nhiều sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra tuyên bố chủ quyền về Hoàng Sa. Điều này đã được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tiến hành sau khi đất nước thống nhất.
Theo nhận định trong các hồ sơ ngoại giao được giải mật, nỗi lo sợ ngày càng lớn của Trung Quốc trước hoạt động của hải quân Liên Xô tại biển Đông và các vùng biển khác ở châu Á có thể là yếu tố dẫn đến quyết định của Trung Quốc. Đây là thời kỳ đỉnh điểm rạn nứt quan hệ Xô - Trung liên quan đến tranh chấp lãnh thổ dọc biên giới hai nước, cũng như các vấn đề Nam Phi, Trung Đông và Đông Dương.
Trong lúc nhiều yếu tố bên ngoài nghiêng về hướng có lợi cho một cuộc chiến chớp nhoáng của Trung Quốc thì bối cảnh trong nước cũng hết sức bất lợi cho Việt Nam Cộng hòa khi Lưỡng viện Mỹ giảm dần viện trợ từ 1,4 tỷ USD năm 1972 xuống 1 tỷ USD năm 1973 và 700 triệu USD vào năm 1974. Quân đội Việt Nam Cộng hòa dần rơi vào thế thụ động vì thiếu nhiên liệu, vũ khí. Bất lợi hơn là ý định “bỏ rơi” miền Nam Việt Nam của Mỹ. Tình trạng phân chia Bắc - Nam cũng là một trở ngại cho phía Việt Nam Cộng hòa trong trận hải chiến 1974.
Lợi dụng bối cảnh đó, Trung Quốc đã không e ngại khi điều động chiến hạm đến cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa.
Nguyễn Hùng Cường

Tổng quan diễn biến thị trường giá cả ở Việt Nam năm 2013 và dự báo năm 2014

Tổng quan diễn biến thị trường giá cả ở Việt Nam năm 2013 và dự báo năm 2014
Việc nhìn nhận những yếu tố tác động đến giá cả, thị trường trong năm 2013, từ đó đề xuất những giải pháp thực hiện phù hợp cho năm 2014 có ý nghĩa rất quan trọng. Bài viết sau đây sẽ phân tích, đánh giá về diễn biến giá cả thị trường Việt Nam năm 2013 và dự báo về diễn biến tình hình kinh tế, giá cả, thị trường năm 2014.
    Diễn biến thị trường, giá cả năm 2013 ở Việt Nam
    Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số CPI tháng 12/2013 tăng 0,51% so với tháng 11/2013; tăng 6,04% so với tháng 12/2012 và chỉ số CPI bình quân năm 2013 tăng 6,60% so với năm 2012. Đây là mức tăng thấp nhất ở Việt Nam trong 10 năm qua (từ 2004 – 2013, trong đó CPI tháng 12/2004 so với tháng 12/2003 là 109,5 và tháng 12/2005 so với tháng 12/2004 là 108,4). Xin xem thêm biểu đồ 1.
    Xét về chỉ số giá của từng nhóm hàng trong CPI tháng 12/2013 so với tháng 12/2012, tăng mạnh nhất là giá nhóm Thuốc và dịch vụ y tế (cả nhóm tăng 18,97%, riêng dịch vụ y tế tăng 23,51%); sau đó là nhóm Giáo dục (cả nhóm tăng 11,71%, riêng dịch vụ giáo dục tăng 12,82%);  May mặc, mũ nón, giày dép (tăng 6,20%).

    Nhóm giảm giá hoặc tăng thấp hơn tốc độ tăng giá chung là nhóm Bưu chính viễn thông (giảm 0,57%); Giao thông (tăng 2,60%); Văn hóa, giải trí và du lịch (tăng 3,02%); Thiết bị và đồ dùng gia đình (tăng 3,95%); Đồ uống và thuốc lá (tăng 4,19%); Hàng hóa và dịch vụ khác (tăng 5,02%); Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (cả nhóm tăng 5,08%, riêng Lương thực tăng 1,98%, Thực phẩm tăng 6,02%, Ăn uống ngoài gia đình tăng 5,27%); Nhà ở và vật liệu xây dựng (tăng 5,49%)… 
    Diễn biến của giá cả, thị trường năm 2013 của Việt Nam cho thấy một số điểm đáng lưu ý như sau:
    - Diễn biến CPI năm 2013 phá vỡ xu hướng biến động giá có tính quy luật là “hai năm nhanh, một năm chậm” đã hình thành ở nước ta trong 9 năm trước đó (2004-2012). Điều này thể hiện sự điều hành, can thiệp vào thị trường, giá cả ở Việt Nam của Chính phủ đã chủ động, có liều lượng và bài bản hơn. Do vậy, giá cả không còn bị “nhảy múa” giữa hai thái cực (tăng nhanh rồi lại chậm, rồi lại nhanh…) như 9 năm đó.
    Biểu đồ 1: Chỉ số CPI của một số năm so với tháng 12 năm trước 
    Nguồn: Tổng cục Thống kê
    - Sự biến động CPI giữa các tháng trong năm 2013 cũng không đột ngột, chênh lệch quá nhiều như những năm trước (đường đồ thị diễn biến CPI năm 2013 ở biểu đồ 1 "trơn tru" hơn các năm trước đó).
    - Xét về sự biến động giá của từng nhóm hàng trong “rổ hàng hóa” tính CPI cho thấy nhóm Thuốc và dịch vụ y tế có mức độ tăng giá rất mạnh (tốc độ tăng giá của nhóm này là 18,97%, gấp khoảng 3 lần tốc độ tăng giá chung của cả “rổ hàng hóa”). Nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống những năm trước đây thường có tốc độ tăng giá cao hơn tốc độ tăng CPI, thì kỳ này lại có tốc độ tăng giá thấp hơn tốc độ tăng CPI (trong đó, đặc biệt là nhóm Lương thực chỉ tăng 1,98%).
    - Giá vàng có sự sụt giảm rất mạnh làm cho nhiều người “đầu tư”, “trú ẩn” vào vàng bị thiệt hại năng nề. Giá vàng ở Việt Nam tháng 12/2013 giảm 24,36% so tháng 12/2012.
    - Tiếp theo những giải pháp đã được thực hiện từ năm 2011 và 2012 nhằm “kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô”, ngay từ đầu năm 2013 Chính phủ đã triển khai nhiều giải pháp ứng phó kịp thời, mà nổi bật là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2013 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu Những giải pháp này đã phát huy hiệu lực rất rõ trên thực tế nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô...
    Nguyên nhân chính khiến chỉ số CPI năm 2013 có diễn biến như trên là do 3 nhóm nhân tố sau:
    Thứ nhất, do xác định chống lạm phát là mục tiêu hàng đầu nên Chính phủ đã thực hiện quyết liệt nhiều giải pháp nhằm ổn định tình hình kinh tế - xã hội, bình ổn giá cả thị trường.
    CPI năm 2013 tăng chậm do 1 nguyên nhân rất quan trọng là Chính phủ dùng “mệnh lệnh hành chính” yêu cầu chưa tăng giá một số mặt hàng thiết yếu như:
    Trong quý I/2013 khi giá thế giới tăng, Chính phủ yêu cầu giá bán lẻ xăng dầu trong nước giữ ổn định suốt từ cuối năm 2012 đến 28/3/2013 mới cho tăng giá, khiến cho quỹ bình ổn giá xăng dầu tính tới ngày 28/3/2013 bị âm 524 tỷ đồng. Trong quý II tới cuối năm 2013, giá xăng dầu trong nước có được điều chỉnh linh hoạt hơn nhưng do giá xăng dầu thế giới khá ổn định nên giá xăng dầu trong nước cũng không có biến động nhiều.
    Những mặt hàng khác như: điện, dịch vụ y tế, giáo dục cũng được Chính phủ chỉ đạo không tăng giá dồn dập để tránh tác động tăng giá đột biến.
    Một nguyên nhân khá quan trọng tác động làm diễn biến CPI ở Việt Nam thời gian qua tăng chậm và có dấu hiệu giảm ở 1 số tháng (tháng 3 và tháng 5/2013) là bởi tổng cầu giảm, vì sức mua yếu. Tổng cầu giảm thể hiện rất rõ qua những số liệu thống kê như:
    Tăng trưởng GDP chậm lại: GDP năm 2013 ước tính tăng 5,42% so với năm 2012, trong đó quý I tăng 4,76%; quý II tăng 5,00%; quý III tăng 5,54%; quý IV tăng 6,04%. Mức tăng trưởng năm 2013 tuy thấp hơn mục tiêu tăng 5,5% do Quốc hội đề ra nhưng cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012. Tuy nhiên, lại thấp hơn mức tăng 5,89% của năm 2011; 6,79% của năm 2010...
    Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2013 ước tính đạt 2618 nghìn tỷ đồng, chỉ tăng 12,6% so với năm 2012 và là mức tăng thấp nhất trong vòng bốn năm trở lại đây. Sau khi loại trừ yếu tố giá, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2013 tăng 5,6% (trong khi năm 2012 tăng 6,5%; năm 2011 tăng 4,4%...). Đặc biệt, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2013 so với năm 2012 của khu vực kinh tế nhà nước giảm 8,6%; kinh tế ngoài nhà nước tăng 15,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 32,8%.
    Tỷ lệ hàng tồn kho luôn ở mức cao[1], đặc biệt tỷ lệ tồn kho của các tháng trong năm 2013 luôn ở mức từ 70 - 75%. Điều này có nghĩa là trong năm 2013, có tới 70 – 75% giá trị sản xuất của các cơ sở sản xuất ngành công nghiệp được chuyển thành sản phẩm dở dang hoặc hàng hóa tồn kho… Trong khi các nhà quản lý khuyến cáo tỷ lệ này nên ở mức khoảng 60% là hợp lý.
    Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp thời gian qua tăng liên tục, cụ thể chỉ số tồn kho so với cùng kỳ năm trước của 1 số năm như sau: năm 2010 (thời điểm 01/12/2010) tăng 27,9%; năm 2011 (thời điểm 01/12/2011) tăng 23,0%; năm 2012 (thời điểm 01/01/2013) tăng 21,5%; năm 2013[2] (thời điểm 01/12/2013) tăng 10,2%. Mặc dù tốc độ tăng chỉ số tồn kho thời gian qua có xu hướng giảm dần, nhưng diễn biến chỉ số vẫn tăng này cho thấy tình trạng tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là đáng báo động. Chỉ khi nào chỉ số này có xu hướng giảm (tốc độ tăng đạt giá trị âm) thì tình hình tiêu thụ hàng công nghiệp chế biến, chế tạo mới thực sự khởi sắc. Nó chứng minh rất rõ sức mua của xã hội không tăng được như kỳ vọng.
    Tình hình tiêu thụ hàng nông, thủy sản thời gian cũng rất khó khăn, đặc biệt là những mặt hành chủ lực của nông nghiệp Việt Nam như: lúa gạo, cà phê, lợn… Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2013 chỉ tăng 0,57% so với năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp giảm 0,59%; sản phẩm chăn nuôi giảm tới 2,36%; hàng thủy sản tăng 3,66%... Với lực lượng đông đảo người nông dân khó tiêu thụ được sản phẩm mình làm ra và có thu nhập rất thấp hoặc chịu lỗ thì sức mua toàn xã hội bị hạn chế là hậu quả trực tiếp.
    Trước viễn cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, nguy cơ nợ xấu, vỡ nợ còn rất lớn nên người tiêu dùng càng phải hạn chế chi tiêu… làm cho sức mua trên thị trường càng yếu hơn.
    Thứ hai, diễn biến giá thị trường hàng hóa, dịch vụ trong nước của Việt Nam phụ thuộc rất mạnh vào diễn biến giá nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường thế giới. Vì vậy, khi giá thị trường thế giới biến động thì giá trong nước cũng sẽ biến động theo (xem thêm biểu đồ 2).
    Từ biểu đồ 2 ta thấy giá hầu hết nguyên nhiên vật liệu trên thị trường thế giới trong năm 2013 có xu hướng giảm liên tục (riêng chỉ có giá nhóm hàng năng lượng tăng nhẹ từ tháng 1-2/2013, tháng 7 – 9/2013 và tháng 12/2013; Giá nhóm hạt có dầu tăng nhẹ từ tháng 5-6/2013 và tháng 9-12/2013…). Đặc biệt, giá nhóm hàng ngũ cốc giảm mạnh nhất (giá bình quân tháng 12/2013 giảm tới 26,9% so với giá bình quân tháng 12/2012); Giá nhóm hàng phân bón cũng giảm mạnh (giá bình quân tháng 12/2013 giảm tới 24,5% so với giá bình quân tháng 12/2012)... Do đó, giá của hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam cũng biến động theo xu hướng này.
    Thống kê cụ thể, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam năm 2013 giảm 2,41% so với năm 2012 (năm 2012 giảm 0,54% so với năm 2011), trong đó chỉ số giá xuất khẩu của một số mặt hàng giảm mạnh là: Cao su giảm 18,96%; than giảm 15,68%; sản phẩm từ cao su giảm 14,13%. Trong năm 2013, kinh tế thế giới vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng khiến nhu cầu tiêu thụ một số loại hàng hóa cơ bản giảm và sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các đối tác xuất khẩu là những nguyên nhân chủ yếu khiến chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam giảm năm thứ 2 liên tiếp.
    Biểu đồ 2: Chỉ số giá một số nhóm hàng hóa trên thế giới (năm 2010=100)
    Nguồn World Bank
    Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam năm 2013 giảm 2,36% so với năm 2012 (năm 2012 giảm 0,33% so với 2011), trong đó chỉ số giá nhập khẩu của một số mặt hàng giảm nhiều là: Cao su giảm 21,15%; phân bón giảm 17,83%; sắt thép giảm 10,48%...
    Thứ ba, do thiên tai và dịch bệnh trong nước như: Rét đậm, rét hại, mưa đá, hạn hán ở nhiều địa phương; Cúm gia cầm; Lợn tai xanh... Nguyên nhân này làm nguồn cung trên thị trường biến động và giá cả hàng hóa sẽ biến động theo.
    Dự báo diễn biến thị trường, giá cả năm 2014 ở Việt Nam
    Năm 2014, giá cả thị trường Việt Nam sẽ biến động và gắn kết ngày càng chặt chẽ hơn vào biến động của giá nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường thế giới. Trong khi đó, kinh tế thế giới năm 2014 dự báo đã có những dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn tiếp tục gặp khó khăn và có những biến động khó lường. Tăng trưởng của hầu hết các nền kinh tế có được cải thiện nhưng còn ở mức thấp (Worldbank dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2014 sẽ đạt mức 3%, tăng cao hơn so với mức ước tính 2,1% của năm 2013)...
    Ở trong nước, sản xuất có dấu hiệu khởi sắc nhưng vẫn chưa vững chắc bởi vì: Nhu cầu thị trường còn yếu nên các doanh nghiệp chưa dám đầu tư đẩy mạnh sản xuất vì sẽ chỉ làm cho hàng tồn kho tăng; Tình hình nợ xấu, cân đối tài chính của các doanh nghiệp vẫn chưa giải quyết triệt để nên doanh nghiệp vẫn khó vay được vốn từ ngân hàng cũng như từ các gói hỗ trợ của nhà nước.v.v. Bên cạnh đó, Chính phủ cùng cộng đồng doanh nghiệp và các lực lượng trong xã hội đang quyết tâm thực hiện quyết liệt các giải pháp nhằm giữ ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu để nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, tạo động lực cho tăng trưởng.v.v.
    Có thể nêu lên một số nhận định chính về diễn biến giá cả năm 2014 ở Việt Nam như sau:
    Diễn biến giá cả ở Việt Nam trong năm 2014 phụ thuộc rất mạnh vào quan điểm và các quyết sách thực hiện lộ trình điều chỉnh giá một số mặt hàng của Nhà nước (điện, than, xăng dầu, dịch vụ y tế, giáo dục…). Diễn biến giá cả khá ổn định của năm 2013 cho thấy đây là “cơ hội tốt” để Chính phủ thực hiện điều chỉnh giá các mặt hàng này theo cơ chế thị trường mà vẫn đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát đã đề ra (tăng khoảng 7%). Tuy nhiên, việc điều chỉnh giá của từng mặt hàng cụ thể cần được cân nhắc liều, lượng và phân phối về không gian, thời gian một cách hợp lý để tránh tạo ra những cú sốc trên thị trường và tác động xấu tới đời sống nhân dân.
    Tình hình kinh tế thế giới năm 2014 có những diễn biến khá phức tạp đặc biệt là những vấn đề về: Xung đột chính trị, nợ công, tranh chấp các vùng lãnh thổ, biển đảo... rất khó dự báo trước ở nhiều quốc gia trên thế giới. Kinh tế Mỹ có dấu hiệu hồi phục sẽ là động lực thúc đẩy tăng trưởng ở các quốc gia khác; Cục dự trữ liêng bang Mỹ (Fed) thu hẹp dần các gói nới lỏng tiền tệ (được gọi là QE) sẽ làm cho USD lên giá so với các đồng tiền khác, kéo theo đó là giá nguyên, nhiên vật liệu tính bằng USD có xu hướng giảm.v.v. Những biến động này sẽ tác động mạnh tới diễn biến thị trường hàng hóa, dịch vụ trên thế giới và do đó sẽ ảnh hưởng ngay tới thị trường, giá cả ở Việt Nam.
    Giá nhiều loại nguyên, nhiên vật liệu (xăng dầu, phân bón, phôi thép, hàng nông sản...) trên thị trường thế giới biến động phức tạp theo diễn biến của kinh tế thế giới... Vì vậy, giá các mặt hàng này ở thị trường Việt Nam sẽ biến động theo xu hướng đó.
    Tình hình thiên tai, dịch bệnh trong nước còn diễn biến phức tạp, có thể làm biến động thị trường và giá hàng hóa....
    Về dự báo chỉ số CPI ở Việt Nam tháng 12/2014 so với tháng 12/2013, chúng tôi đã cho chạy thử một số mô hình kinh tế lượng và ra kết quả, nếu Chính phủ không có những can thiệp chính sách mạnh vào thị trường thì CPI của Việt Nam tháng 12/2014 so với tháng 12/2013 sẽ ở mức 105,5 – 106,0 (3). Mức tăng giá này là thấp so với mục tiêu bình ổn giá đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6  tháng 10/2013 thông qua.
    Nếu Chính phủ thực hiện những quyết sách mạnh về điều chỉnh giá một số số hàng hóa quan trọng và nhạy cảm (dịch vụ y tế, giáo dục, điện...) theo lộ trình áp dụng cơ chế giá thị trường, hoặc nới lỏng sớm chính sách tiền tệ để tạo động lực cho tăng trưởng cao hơn... thì CPI của Việt Nam tháng 12/2014 so với tháng 12/2013 sẽ còn tăng cao hơn nữa. Do vậy, kiến nghị Chính phủ cần có giải pháp điều hành nền kinh tế đồng bộ và thực hiện quyết liệt để giữ ổn định giá cả thị trường và ổn định kinh tế vĩ mô như mục tiêu đã đề ra.


    [1] Tỷ lệ giá trị hàng tồn kho so với giá trị sản xuất công nghiệp chế tạo tháng 12/2012 là 72,7%; tháng 1/2013 là 70%; tháng 2/2013 là 93,3%; tháng 3/2013 là 73,4%; tháng 4/2013 là 74%; tháng 5/2013 là 71%; tháng 6/2013 là 71,4%; tháng 7/2013 là 70%; tháng 8/2013 là 70,7%; tháng 9/2013 là 74%; tháng 10/2013 là 72,4%.
    [2] Chỉ số tồn kho các tháng năm 2013 so với cùng kỳ năm 2012 như sau: Thời điểm 01/2 tăng 19,9%; 01/3 tăng 16,5%; 01/4 tăng 13,1%; 01/5 tăng 12,3%; 01/6 tăng 9,7%; 01/7 tăng 8,8%; 01/8 tăng 9,2%; 01/9 tăng 9,7%; 01/10 tăng 9,4%; 01/11 tăng 9,8%; 01/12 tăng 10,2%;.
    [3] Mô hình này chúng tôi cho chạy thử từ năm 2012 và cho kết quả: Tháng 6/2012 dự báo CPI của Việt Nam tháng 12/2012 so với tháng 12/2011 sẽ ở mức 106,5 – 107,5 (thực tế diễn ra là CPI tháng 12/2012 so với tháng 12/2011 ở mức 106,81); Tháng 12/2012 dự báo CPI của Việt Nam tháng 12/2013 so với tháng 12/2012 sẽ ở mức 106,0 – 107,0, Tháng 6/2013 dự báo CPI của Việt Nam tháng 12/2013 so với tháng 12/2012 sẽ ở mức 105,5 - 106,5 (thực tế diễn ra là CPI tháng 12/2013 so với tháng 12/201 ở mức 106,04). Các kết quả này đã được công bố tại các Hội thảo về Diễn biến giá cả thị trường do Viện Kinh tế - Tài chính tổ chức.
    (*) Bài viết được trích từ Tham luận Hội thảo Diễn biến giá cả, thị trường ở Việt Nam năm 2013 và dự báo năm 2014 do Viện Kinh tế - Tài chính và Cục Quản lý Giá (Bộ Tài chính) tổ chức ngày 30/12/2013.

    Công tý muối vạn ninh - Hải Hậu: Quyền lợi của người lao động bị bỏ rơi?

    Công tý muối vạn ninh - Hải Hậu: Quyền lợi của người lao động bị bỏ rơi?
      07/04/2010 - 01:51:00
      KTNT- Theo Luật Bảo hiểm xã hội, người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) cho người lao động và hằng tháng trích tiền lương, tiền công của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ BHXH. Tuy nhiên hiện nay, nhiều doanh nghiệp không tuân thủ nghiêm túc quy định này. Tại Hải Hậu (Nam Định), thực trạng trở nên báo động vì phần lớn các doanh nghiệp không đóng hoặc chỉ đóng cho một số lao động.

      Thực trạng báo động
      Chúng tôi đến Công ty TNHH Muối Vạn Ninh (xã Hải Đông) vào lúc tan tầm, phần lớn công nhân đang trên đường về nhà. Khi chúng tôi hỏi chuyện đóng BHXH, nhiều công nhân nói là không được đóng và thực tế họ cũng không hiểu cách thức đóng như thế nào, quyền lợi và trách nhiệm của họ ra sao.
      Công ty TNHH Muối Vạn Ninh mỗi năm sản xuất khoảng 4.000 tấn muối, sử dụng 35 lao động, phần lớn là người dân địa phương. Tuy nhiên, đến nay, Công ty mới đóng bảo hiểm cho 13 người (trong đó có 4 công nhân).
      Giải thích sự việc này, ông Nguyễn Văn Ninh, Giám đốc Công ty TNHH Muối Vạn Ninh cho rằng, do phần lớn công nhân làm việc thời vụ nên không ổn định, khó thực hiện Luật BHXH. Hơn nữa, người lao động cũng nhất trí với Công ty không đóng BHXH để tăng thêm thu nhập. Ông Ninh cho biết thêm: “Biết là vi phạm nhưng chúng tôi đành chấp nhận. Tình trạng này không chỉ riêng Công ty tôi mà hầu hết các doanh nghiệp khác ở đây cũng làm tương tự”.
      Công ty TNHH Sản xuất kinh doanh muối i-ốt Thanh Chương ở thôn Văn Lý (xã Hải Lý) có 50 lao động (trong đó có 41 lao động nữ) nhưng đến nay, tất cả công nhân đều chưa được Công ty đóng BHXH. Một nữ công nhân cho biết: “Chúng tôi là phụ nữ, học hành không đến nơi đến chốn nên không biết cách bảo vệ quyền lợi của mình. Làm mấy năm nay nhưng tôi chưa thấy lãnh đạo Công ty nhắc gì đến bảo hiểm”.
      Ngoài ra, một loạt doanh nghiệp khác như Công ty cổ phần Xây dựng Tiến Triển ở thị trấn Cồn (Hải Hậu) sử dụng 400 lao động nhưng mới đóng BHXH cho 18 người; Công ty TNHH Vận tải Minh Khai có 286 lao động nhưng tất cả đều chưa được đóng BHXH...
      Thành lập công ty cho oai!
      Trong buổi làm việc với phóng viên báo Kinh tế nông thôn, ông Phạm Mạnh Hằng, Phó trưởng phòng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Hải Hậu khẳng định thực trạng trên là có thật. Cung cấp cho chúng tôi danh sách một loạt doanh nghiệp, ông Hằng cho rằng hầu hết các công ty TNHH đều không thực hiện nghiêm túc Luật BHXH. Lý do là, nhiều công ty làm ăn theo thời vụ, lao động không ổn định... “Chủ sử dụng lao động muốn công nhân có thu nhập cao hơn, còn người lao động thì do nhận thức chưa đầy đủ nên không quan tâm đến quyền lợi của mình”, ông Hằng nhấn mạnh.
      Ông Hằng cho rằng, có tình trạng trên một phần là do Sở Kế hoạch và Đầu tư Nam Định cấp phép thành lập công ty một cách tràn lan, không mấy quan tâm đến Luật Doanh nghiệp, Luật Lao động, Luật BHXH...
      Ngoài quyền lợi người lao động bị bỏ rơi, việc thành lập doanh nghiệp tràn lan còn dẫn đến sự cạnh tranh bất bình đẳng trong kinh doanh. Bà Trần Thị Bình, Giám đốc Công ty Muối và Thương mại Nam Định cho rằng: “Do phải chi trả đóng BHXH, bảo hiểm y tế nên sản phẩm của các công ty thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật sẽ có giá cao hơn so với sản phẩm cùng loại của các công ty không thực hiện nghiêm quy định của pháp luật”.
      Chỉ vì cái lợi trước mắt, nhiều công nhân không quan tâm đến việc đấu tranh đòi quyền lợi cho mình; phía người sử dụng lao động cũng vì thế mà không thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật. Đã đến lúc ngành chức năng tỉnh Nam Định cần rà soát lại việc thực hiện Luật BHXH ở các doanh nghiệp để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động.
      Điều II, Luật Bảo hiểm xã hội quy định:
      - Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn đủ ba tháng trở lên bắt buộc đóng BHXH. Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.
      - Người sử dụng lao động thuộc các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh thì phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, hằng quý hoặc sáu tháng một lần.